Home » Life » 10 huyền thoại về ngựa trong truyền thuyết năm châu

10 huyền thoại về ngựa trong truyền thuyết năm châu

1 – Thiên lý thần mã Chollima của Triều Tiên

Tượng trưng cho chủ nghĩa anh hùng, tinh thần chiến đấu bất khuất, tượng trưng cho sức mạnh và sự phát triển kinh tế ở một số quốc gia như Triều Tiên, Hàn Quốc, … Ngựa thần Chollima xuất hiện khắp nơi trên đất nước Triều Tiên. Tại thủ đô Bình Nhưỡng, người dân cũng làm một bức tượng cao hơn 46m về loài ngựa thần này.

Tương truyền, ngựa thần Chollima xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước công nguyên tại Trung Quốc. Loài ngựa này sở hữu sải cánh rộng, có thể bay hôn 400km trong một ngày. Con người rất muốn thuần hóa ngựa thần, đã bày ra rất nhiều cạm bẫy, nhưng Chollima đều dũng cảm vượt qua tất cả và bay lên trời trong sự bất lực của những kẻ tham lam. Mãi cho đến khi sứ giả đích thân lên mời thì ngựa thần mới chịu quay về Trái Đất và chấp nhận bị thuần hóa.

Image

2 – Pegasus thần thoại của Hy Lạp

Chú ngựa trắng Pegasus của Hải thần có cánh như chim đại bàng, là con của thần biển Poseidon và nàng Medusa. Ngay khi vừa ra đời, Pegasus dậm mạnh chân xuống núi Helicon tạo thành giòng suối Hippocrene khơi nguồn cho thi ca. Lớn lên, Pegasus trở thành ngựa bất kham, không ai trị nổi. Sau khi giúp đỡ anh hùng Bellerophon đánh bại quái vật Chimera (đầu sư tử mình rồng thở ra lửa), thần Zeus biến Pegasus thành một chòm sao và cho nó một vị trí trên bầu trời.

Image

3 – Bốn con ngựa của Apocalypse

Xuất phát từ thần thoại Kitô giáo, lần lượt có các màu: trắng, đỏ, đen và xanh (xanh xám hoặc xanh lá cây). Chúng là biểu tượng của sự chinh phục, chiến tranh, nạn đói và cái chết. Trong sách Khải Huyền, chúng được xem là dấu hiệu của sự phán xét cuối cùng trong suốt Ngày Tận thế. Chúng cũng được mọi người biết đến là nhà tiên tri của tự nhiên. Năm nay, khu vực đường hoa tại Crescent Mall và cầu Ánh Sao quận 7 có hình tượng 4 con ngựa, không biết có chung với hình tượng này không?

Image

4 – Ngựa Al-Buraq trong đạo Hồi

Theo truyền thuyết, Al-Buraq là chiến mã, là phương tiện di chuyển của các nhà tiên tri. Cái tên Al-Buraq bắt nguồn từ tiếng Arab trong đó “buraq” có nghĩa là “tia chớp”. Linh vật này rất được sùng bái tại khu vực Tây Nam Á (gồm vùng núi Caucasus, bán đảo Ả Rập, các sơn nguyên Tiểu Á, Armenia, Iran). Al-Buraq có lông màu trắng, đôi cánh mọc ở thân, có đầu là khuôn mặt của một thanh niên đẹp trai, tuấn tú, và có đôi tai rất to, có thể nghe được âm thanh từ rất xa.

Câu chuyện nổi tiếng nhất liên quan đến loài ngựa này được ghi chép trong kinh Quran. Nhà tiên tri Muhammad cùng với thiên thần Grabiel đã cưỡi chúng từ thánh địa Mecca tới Jerusalem, sau đó lên thiên đường chuyện trò với thánh Allah trong “Cuộc du hành ban đêm”.

Image

5 – Ngựa Uchchaihshravas trong đạo Hindu

Trong thần thoại Ấn Độ, Uchchaihshravas là một con ngựa có 7 đầu, trắng như tuyết, biết bay và xuất hiện vào giai đoạn “Churning of the Milk Ocean”. Uchchaihshravas được xem là con ngựa tốt nhất, xuất hiện đầu tiên và là vua của các loài ngựa. Theo sử thi Mahabharata, Uchchaihshravas là thú cưỡi của Indra, vua của các vị thần, nhưng cũng có một số ghi chép cho rằng nó là thú cưỡi của vua quỷ Bali.

Image

6 – Ngựa Kanthaka trong Phật giáo

Theo truyền thuyết dân gian, Kanthaka với bộ lông trắng được mô tả “có chiều dài 18 cubit (1 cubit tương đương 45,72 cm) và chiều cao tương xứng. Đây là con ngựa yêu của Đức Phật Siddhartha Gautama. Đức Phật đã cưỡi trên lưng Kanthaka trốn khỏi cung điện của gia đình khi ông quyết định trở thành nhà tu hành. Sau khi chết, Kanthaka được tái sinh thành một học giả. Học giả này đã có chuyến hành trình tu luyện đạt được giác ngộ.

Image

7 – Đàn ngựa cái của Diomedes trong thần thoại Hy Lạp

4 con ngựa cái của Diomedes có tên gọi Podagros, Lampon, Xanthos và Deimos. Chúng rất hung bạo và thích ăn thịt người. Bắt giữ và thuần hóa đàn ngựa điên này là kỳ công thứ 8 trong số 12 kỳ công của Heracles. Người anh hùng trong thần thoại Hy Lạp đã hoàn thành nhiệm vụ bằng cách cho đàn ngựa ăn thịt chính chủ nhân của chúng. Ngoài việc là biểu tượng trong thần thoại Hy Lạp, đàn ngựa trên còn được cho là tổ tiên của Bucephalus, chiến mã của Alexander Đại đế.

Image

8 – Ngựa Tulpar trong thần thoại Thổ Nhĩ Kỳ

“Tulpar” trong ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ ở khu vực Trung Á cũng có nghĩa là “ngựa có cánh”. Một trong những truyền thuyết kể lại rằng, anh hùng dân gian người Tuvan, Oskus-ool, đã sử dụng những gì còn lại của con ngựa Tulpar yêu quý để tạo ra cây đàn violon đầu tiên.

Người ta tin rằng Tulpar là sự kết hợp mang tính biểu tượng giữa ngựa và chim săn mồi, hai loài vật thường được người dân Trung Á sử dụng trong săn bắt. Tulpar đóng vai trò quan trọng trong văn hóa Trung Á. Nó là biểu tượng trên quốc huy của Kazakhstan và Mông Cổ.

Image

9 – Thần ngựa Hayagriva của Tây Tạng

Người Tây Tạng thờ cúng vị thần này vì họ tin rằng, ông luôn dùng tiếng hí vang trời để đe dọa và xua đuổi ma quỷ. Những khi giáng lâm cứu người, Hayagriva cũng hí vang, báo hiệu cho mọi người biết mình giáng lâm. Đó là lý do vì sao mà ngài thường xuất hiện với hình người đầu ngựa.

Tiếng hí của Hayagriva có khả năng xuyên thủng màn không, đem lại ánh sáng của tự do. Một số tài liệu ghi lại rằng, thần chú của ngài Hayagriva gồm những câu thơ như sau: “Nguyện cầu ngài bảo vệ đàn ngựa. Tăng thêm số lượng ngựa cái. Từ những con ngựa này sẽ sinh thêm nhiều chú ngựa con siêu phàm. Xin ngài hãy dẹp hết những chướng ngại trên đường và hướng cho chúng con đi đúng hướng”.

Vì thế, những người nuôi ngựa ở Tây Tạng luôn thờ phụng Hayagriva với lòng tôn kính bởi họ tin rằng, ngài sẽ “độ” cho ngựa nhà mình sinh sôi nảy nở thật nhanh chóng.

Image

10 – Ngựa Kiền Trắc trung thành

Kiền Trắc là con ngựa màu trắng yêu thích của thái tử Tất Đạt Đa, người sau này trở thành Đức Phật Thích Ca. Và chính con ngựa này đã giúp cho hoàng tử quyết tâm chân tu, dứt duyên với bụi trần.

Tương truyền kể lại rằng, Kiền Trắc được sinh ra trong nhà của Đề-Bà-Đạt-Đa ích kỷ, gian dối và tham lam. Để thể hiện quyền lực của mình, Đề-Bà-Đạt-Đa đánh đập, khổ sai những con vật, cho chúng ăn gạo đục, uống nước bẩn. Các con vật trong hoàng cung vì thế sợ Đề-Bà-Đạt-Đa vô cùng, chỉ cần thấy bóng dáng thì liền cúi đầu, im lặng.

Duy chỉ có chú ngựa Kiền Trắc thì vẫn hí vang, chạy nhảy mỗi khi thấy Đề-Bà-Đạt-Đa. Quá tức giận, ngài ra sức hành hạ chú ngựa tội nghiệp. Đòn roi không làm khuất phục chú ngựa thần, Kiền Trắc còn dữ dằn hơn, giơ chân đe dọa những kẻ dám đánh mình. Đề-Bà-Đạt-Đa cuối cùng phải nhốt chú ngựa tội nghiệp vào hầm không cho ăn uống.

Tình cờ, Thái tử Tất Đạt Đa nghe tin đồn về một chú ngựa bị hành hạ. Quá thương xót, thái tử liền tìm đến cầu xin Đề-Bà-Đạt-Đa giao cho mình chú ngựa này. Kiền Trắc được đưa về phủ của thái tử và nuôi dưỡng trong tình yêu, sự quý trọng. Điều này làm Kiền Trắc cảm động lắm, nên rất nghe lời Tất Đạt Đa và chỉ có thái tử mới có thể sai bảo được nó.

Khi Tất Đạt Đa rời bỏ cung điện để tu hành, ngựa Kiền Trắc cũng quyết theo tới cùng và phụng sự không ngừng nghỉ. Sau cùng khi chết đi, vì nhiều công đức, ngựa Kiền Trắc được tái sinh là một đạo sĩ, được ngộ đạo và nhập niết bàn.

Image

DVD (sưu tầm và tổng hợp)

Thành phố Hồ Chí Minh,

Ngày 1 tháng 2 năm 2014

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s